Việc nhận diện và làm rõ mối quan hệ giữa đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là cơ sở, tiền đề đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

Giải quyết mối quan hệ giữa đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa hiện nay
Giải quyết mối quan hệ giữa đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa hiện nay

1. Mở đầu 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý mang tầm triết lý: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì dân ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi”1. Những quan điểm, tư tưởng của Người đã thể hiện rõ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, là nguồn sức mạnh vô địch để đất nước ta trường tồn, phát triển mãi mãi. 

2. Đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là hai phạm trù khác nhau, song giữa chúng có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau phát triển, hướng đến mục tiêu chung thống nhất là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 

Khái quát mối quan hệ giữa đại đoàn kết toàn dân tộc thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở một số khía cạnh chủ yếu sau đây: 

Một là, thực hành dân chủ rộng rãi là cơ sở để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”2. Và Người còn nhấn mạnh: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn”3. Ở chỗ nào, nơi nào mà dân chủ được phát huy, quyền làm chủ của Nhân dân được tôn trọng, bảo vệ trên thực tế thì ở chỗ đó, nơi đó đoàn kết, Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương; tinh thần, ý chí cách mạng được khơi dậy mạnh mẽ ở tất cả các ngành, lĩnh vực. 

Ngược lại, ở nơi nào, chỗ nào không thực hành dân chủ, không quan tâm chăm lo đến lợi ích của Nhân dân, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, hạn chế dân chủ thì ở chỗ đó, nơi đó mất đoàn kết, không khơi dậy được ý chí, khát vọng của các tầng lớp nhân dân, thậm chí sẽ gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Dân chủ là của quý của Nhân dân”4. Vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Người và cơ quan của Chính phủ đã có nhiều biện pháp quan tâm, chăm lo đến đời sống của Nhân dân, qua đó, củng cố, giữ vững và tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. 

Hai là, sự tác động trở lại của đại đoàn kết toàn dân tộc đến thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc, nhờ có đoàn kết mà Nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, hiểm nguy, đạt được nhiều kết quả quan trọng sau gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ khơi dậy được ý chí, khát vọng của các giai cấp, giai tầng xã hội; tính tích cực, chủ động trong tham mưu, đề xuất, góp ý với cấp ủy, chính quyền địa phương được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi về các lĩnh vực, hoạt động của đời sống xã hội. 

Thông qua đại đoàn kết toàn dân tộc ý thức dân chủ của Nhân dân được thể hiện tập trung, đậm nét ở việc tham gia ngày càng nhiều vào các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới. Đặc biệt, là tham gia vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. 

Đoàn kết trong thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa còn được thể hiện ở sự thống nhất về nhận thức, hành động theo tinh thần “Nhất hô bá ứng”, “Tiền hô hậu ủng”, “Dọc ngang thông suốt” để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Nhân dân được bày tỏ tâm tư, tình cảm, nguyện vọng và những thắc mắc của mình về những lĩnh vực, mặt hoạt động còn băn khoăn, chưa rõ; Nhân dân có quyền giám sát mọi hoạt động của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên”5

Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) cũng đã chỉ rõ: “Đại đoàn kết toàn dân tộc phải gắn với dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của Nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Giải quyết tốt quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, nâng cao cuộc sống của Nhân dân; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, các giai tầng xã hội và của mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội, đóng góp cho đất nước và thụ hưởng thành quả phát triển”6

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, điều hành của Chính phủ, mối quan hệ giữa đại đoàn kết dân tộc và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy đầy đủ trên các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để khơi dậy ý chí, khát vọng của các giai cấp, giai tầng xã hội. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” được cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ địa phương quán triệt và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, cụ thể trong triển khai tổ chức thực hiện những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quy chế dân chủ ở cơ sở được phát huy, người dân được quyền bày tỏ những quan điểm, chính kiến về thực hiện những chương trình, dự án, kế hoạch của Đảng, Nhà nước. 

Người đứng đầu chính quyền địa phương định kỳ gặp gỡ, đối thoại với người dân để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của người dân, tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động trong toàn xã hội. Nhờ có tinh thần đoàn kết mà sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta giành được nhiều thắng lợi to lớn, góp phần củng cố, vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Quyền làm chủ của Nhân dân được coi trọng, ngày càng đi vào thực chất, nhất là dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Vai trò của Nhân dân trong tham gia, quyết định chính sách liên quan đến cuộc sống, những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước được phát huy7

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa còn một số hạn chế, như: tinh thần đoàn kết và thực hành dân chủ ở một số nơi, khu vực còn bị vi phạm, quyền làm chủ của Nhân dân chưa được phát huy đầy đủ; tình trạng khiếu nại, tố cáo, bức xúc trong Nhân dân vẫn còn xảy ra ở chỗ này, chỗ khác. Đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là cán bộ cơ sở chưa sâu sát, bám nắm mọi hoạt động của nhân dân, chưa giải quyết thoả đáng những mong muốn, nguyện vọng của Nhân dân. Sự đoàn kết, thống nhất trong mỗi một chủ trương, biện pháp của cấp ủy, chính quyền địa phương với Nhân dân chưa được sự đồng thuận của toàn xã hội. 

Ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương còn để xảy ra tình trạng vi phạm dân chủ, mất dân chủ, không tôn trọng, lắng nghe, ý kiến của Nhân dân. Vì vậy, tinh thần đoàn kết chưa được đánh thức, khơi dậy một cách mạnh mẽ, quyết liệt. Tình trạng kèn cựa, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, cục bộ, địa phương vẫn còn, do đó, tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong công việc, cuộc sống chưa được phát huy. Việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở một số lĩnh vực, địa bàn hiệu quả chưa cao, chưa khơi dậy, phát huy được tiềm năng to lớn trong Nhân dân8.

Nguyên nhân của hạn chế trên là do: (1) Nhận thức, trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng về tầm quan trọng giải quyết mối quan hệ giữa phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa sâu sắc đầy đủ. (2) Vai trò gương của một số cán bộ chủ chốt các cấp chưa cao, nói chưa đi đôi với làm, chưa gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao. (3) Việc cụ thể hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thật sự linh hoạt, sáng tạo vào từng khu vực, địa bàn cụ thể. (4) Vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong đoàn kết, tập hợp nhân dân để thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa được thể hiện đầy đủ. 

Trước yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng, cường, thịnh vượng đặt ra gắt gao hiện nay và khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Việc thực hành dân chủ để đoàn kết rộng rãi, đông đảo các tầng lớp Nhân dân có ý nghĩa cấp bách hơn bao giờ hết. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại8

3. Một số nội dung, biện pháp tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc với thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể về tầm quan trọng của phát huy dân chủ để tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc.

Đây là giải pháp có vị trí, vai trò quan trọng hàng đầu để giải quyết mối quan hệ gữa phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc với thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhận thức đúng mới có hành động đúng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương đã xác định. 

Các chủ thể lãnh đạo bao gồm cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội các cấp, các tầng lớp nhân dân quán triệt và thực hiện nghiệm túc những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, như: Nghị quyết số 43-NQ/TW; Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sởChỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/3/2002 về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Kết luận số 120-KL/TW ngày 07/01/2016 về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở… 

Trên cơ sở đó, cơ quan, đơn vị, địa phương cụ thể hóa vào từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tầng lớp nhân dân tham gia vào các hoạt động giám sát, phản biện xã hội, xây dựng nông thôn mới, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp thông tin, tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân nắm và hiểu rõ những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, sách, pháp luật của Nhà nước đều hướng đến phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở để khơi dậy ý chí, khát vọng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nội dung về phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải bám sát hoạt động cơ sở, lấy Nhân dân làm đối tượng phục vụ; hướng dẫn, giải thích cho Nhân dân hiểu và chấp hành nghiêm những quy định đã được ban hành về thực hành dân chủ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Tuyên truyền, giáo dục cho Nhân dân tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động của địa phương; nhất là việc góp ý vào các dự thảo, chương trình, hành động của Đảng, Nhà nước có liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân.

Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương cần tích cực, chủ động bám sát hoạt động thực tiễn của cơ quan, đơn vị, địa phương xác định biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đúng, trúng, xây dựng ý chí quyết tâm cao trong thực hiện nhiệm vụ. Đa dạng hóa các hoạt động thông tin, tuyên truyền về thành tựu, kết quả đạt được trong thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, nhất là phát huy sức mạnh đại đoàn kết ở cơ quan, đơn vị, địa phương khi thực hiện mọi nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước. 

Hai là, thường xuyên quan tâm, chăm lo đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tầng lớp nhân dân

Đây là biện pháp có vị trí, đặc biệt quan trọng quyết định đến việc giải quyết mối quan hệ giữa phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc với thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đảng đã khẳng định: “mọi chủ trương, chính sách phải thật sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”9. Với tinh thần này, đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là người đứng đầu giải quyết thoả đáng quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. 

Thường xuyên đổi mới phương thức hoạt động theo phương châm hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm căn cứ đánh giá năng lực, phẩm chất, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Mọi quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết phải đến được với Nhân dân, đi vào thực tiễn cuộc sống. Khi Nhân dân còn băn khoăn, lo lắng, do dự, chưa hiểu biết về chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới, cán bộ các cấp cần kiên trì giải thích, hướng dẫn cho Nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. 

Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức những buổi đối thoại dân chủ ở cơ sở, có sự tham gia đầy đủ của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể lắng nghe những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của Nhân dân. Từ đó, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc ở từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể. Giải quyết thoả đáng những thắc mắc, mong muốn của Nhân dân trong phạm vi, quyền hạn cho phép và có văn bản giải thích cho Nhân dân với những lĩnh vực, sự việc vượt quá thẩm quyền cho phép. Dựa vào Nhân dân để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, giữ vững trật tự an toàn xã hội, xây dựng cơ quan, đơn vị, địa phương vững mạnh về chính trị tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. 

Đẩy mạnh thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt là việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; quan tâm, chăm lo đến cấp dưới, những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Trong điều kiện hòa bình, xây dựng, chăm lo đời sống của Nhân dân là mục đích trực tiếp, là nội dung quan trọng trong hoạt động của Đảng và cơ quan Nhà nước, là vấn đề quyết định tín nhiệm và sự gắn bó của Nhân dân đối với Đảng, là động lực tạo ra phong trào hành động cách mạng của quần chúng10.

Ba là, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với tổ chức, cá nhân vi phạm quy chế dân chủ ở cơ sở, nội bộ mất đoàn kết

Đây là biện pháp có vị trí, vai trò rất quan trọng để giữ vững, củng cố, tăng cường và thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, góp phần giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xã hội; tăng cường đồng thuận xã hội gắn với đề cao ý thức trách nhiệm của công dân; xử lý nghiêm hành vi lợi dụng dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc11

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; phát huy vai trò giám sát của Nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội các cấp phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình trong tham gia phản biện xã hội; tập hợp, đoàn kết nhân dân trong mọi hoạt động xã hội. 

Những cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu khi phát hiện sai phạm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; kiên quyết xử lý theo đúng quy định của Đảng, quy định của pháp luật đối với trường hợp tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không lắng nghe, tôn trọng ý kiến của Nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải thật sự gần dân, trọng dân, sát dân, tạo mọi điều kiện thuận lợi để Nhân dân phát huy tiềm năng, thế mạnh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. 

Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải gương mẫu trong lời nói và hành động, nêu gương trong công việc, cuộc sống. Tuyệt đối tránh tư tưởng nói một đằng làm một nẻo; nói nhiều làm ít, nhất là chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, địa phương, lợi ích nhóm, không thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ những khó khăn, vất vả của các tầng lớp nhân dân. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương là hạt nhân đoàn kết, trung tâm kết nối mọi hoạt động. Khi cảm thấy bản thân không còn đủ uy tín trong công việc, cuộc sống, không đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, để người thân tham nhũng, tiêu cực cần chủ động xin thôi việc. Chỉ khi đó, dân chủ mới thật sự là chìa khóa vạn năng, là nguồn gốc, động lực của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta đến thắng lợi cuối cùng.

4. Kết luận

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”12 chính là sức mạnh nội sinh bên trong, là lời hiệu triệu, mệnh lệnh của cuộc sống để toàn dân cùng chung sức, đồng lòng, mọi lúc, mọi nơi, không phân biệt thành phần, lực lượng, là điểm tựa để thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”13. Đó chính là tư tưởng nhất quán xuyên suốt từ thời lập quốc cho đến hiện nay, cần phải được cụ thể hóa vào cuộc sống để khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tạo thành sức mạnh to lớn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Chú thích:
1, 5. Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 232.
2. Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 698.
3. Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 325.
4. Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 457.
6, 7, 11. Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.
8, 9, 13. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIITập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, 2021, tr. 35, 28, 27.
10. Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác dân vận. https://baochinhphu.vn, ngày 27/5/2016.
12. Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 13. H. NXB. Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 119.

Lại Văn Nam
Trường Đại học Tài chính – Marketing

1. Mở đầu  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý mang tầm triết lý: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì dân ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi”1. Những quan điểm, tư tưởng của Người đã thể hiện rõ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, là nguồn sức mạnh vô địch để đất nước ta trường tồn, phát triển mãi mãi.  2. Đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Đại đoàn kết to&agrave

Tin khác cùng chủ đề

Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng
Quan điểm phát triển văn hóa, con người trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
Bảo đảm tính đảng và tính khoa học của khoa học lịch sử và khoa học chính trị trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm để phòng, chống tận gốc tham nhũng, tiêu cực
Xây dựng đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung
Quan điểm của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài và vận dụng trong thực hiện Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài hiện nay

Gửi bình luận của bạn