Phần I: Những điểm nổi bật trong lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (*)

Là một nhà trí thức, nhà lý luận và hoạt động thực tiễn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng Đảng...; trong đó, nổi bật nhất là các nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Giá trị của lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội qua các tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (Phần I)
Giá trị của lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội qua các tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (Phần I)

Là một nhà trí thức, nhà lý luận và hoạt động thực tiễn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng Đảng...; trong đó, nổi bật nhất là các nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình thế giới ngày càng diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; ở trong nước, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””[1], thì việc nghiên cứu những nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua các tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một công việc có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, làm sáng tỏ hệ quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; làm rõ hơn đặc trưng, tính chất, phương thức, định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; làm cơ sở cho đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, phản động, cơ hội chính trị... Những nhận thức lý luận của đồng chí Nguyễn Phú Trọng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự kế thừa và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm khoa học về phát triển trong bối cảnh mới; thể hiện tính thời đại; phản ánh được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín, tinh thần Việt Nam trong thời đại mới. Hệ thống nhận thức lý luận của đồng chí Tổng Bí thư còn là sự kết tinh của kinh nghiệm thực tiễn và trí tuệ tập thể của Đảng và nhân dân, là sự định hướng cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phấn đấu vì sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước. Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua các tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có những điểm nổi bật sau:

1. Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam

Trên cơ sở kế thừa các giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bằng lập luận chặt chẽ, lôgíc, phân tích sâu sắc, chắt lọc từ thực tiễn phong phú, đồng chí Tổng Bí thư đã tổng kết lịch sử phát triển của thế giới đương đại cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam; từ đó khẳng định một cách khoa học về con đường duy nhất đúng cho sự phát triển của đất nước, đó là đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng chí nhấn mạnh: Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc, bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu duy nhất đúng để đạt được tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội chính là con đường duy nhất đúng để nhân dân ta đi đến cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc.

Cuốn sách "Quốc hội trong tiến trình đổi mới đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện N.hà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mới ra mắt bạn đọc

Theo đồng chí Nguyễn Phú Trọng, “chủ nghĩa xã hội mà chúng ta chủ trương xây dựng không phải là thứ chủ nghĩa xã hội theo nhận thức giản đơn, giáo điều, ấu trĩ trước đây, mà là chủ nghĩa xã hội đã được nhận thức lại theo đúng nghĩa của nó, phù hợp với quy luật phát triển và thực tế Việt Nam”[2]. Đó là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới[3]. Những giá trị đích thực ấy đã trở thành mục tiêu căn bản, định hướng con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, tin tưởng và đang kiên định thực hiện.

Đồng chí Tổng Bí thư đã luận giải một cách thuyết phục rằng: Tại sao chúng ta lại lựa chọn chủ nghĩa xã hội, mà không phải là chủ nghĩa tư bản? Theo đồng chí, lịch sử luôn luôn là dòng chảy liên tục, có quá khứ, hiện tại và tương lai, có phát triển và kế thừa, kế thừa và phát triển. Không ai được quay lưng lại quá khứ, phủ nhận quá khứ, cũng như không nhìn thấy tương lai, chối bỏ tương lai. Chủ nghĩa tư bản có lịch sử phát triển mấy trăm năm, nó vừa phủ nhận chế độ phong kiến, vừa kế thừa những thành tựu của chế độ phong kiến. Chủ nghĩa tư bản đạt được những thành tựu kỳ diệu, nhưng chủ nghĩa tư bản không thể là vĩnh hằng; những khuyết tật, những mâu thuẫn từ trong bản chất của nó nhất định phải được giải quyết thì xã hội mới tiến lên được[4]. Chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước, nhưng bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản là không thể che đậy, mâu thuẫn vốn có cũng như các cuộc khủng hoảng không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa[5]. Chủ nghĩa tư bản vẫn còn dư địa phát triển, tuy vậy, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là điểm dừng cuối cùng của lịch sử xã hội của loài người. Dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất.

Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản[6]. Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua là một thực tế hết sức rõ ràng cho thấy sự thật về bản chất của thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất chủ yếu, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức, hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận và bóc lột, chà đạp lên phẩm giá con người[7].

Đồng chí cũng nhấn mạnh, việc lựa chọn chủ nghĩa xã hội không chỉ là hợp quy luật vận động khách quan của lịch sử, mà chính là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng kinh nghiệm thực tế phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc. Đây cũng chính là con đường mà Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn và kiên định theo đuổi, thể hiện qua quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Theo đồng chí Tổng Bí thư, đi lên chủ nghĩa xã hội còn chính là sự lựa chọn của Đảng ta, được khẳng định ngay từ khi mới ra đời năm 1930 và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng. Theo đó, năm 1930, ngay trong Cương lĩnh chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, “bỏ qua thời kỳ tư bổn chủ nghĩa mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”[8]. Trải qua những biến thiên của lịch sử, sự lựa chọn này không bao giờ thay đổi. Ngay cả vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”[9].

2. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp cách mạng to lớn, lâu dài

Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ, xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp cách mạng to lớn, phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội đan xen nhau, luôn có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát ở Việt Nam là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Phương hướng, giải pháp mang tính phương pháp luận để chỉ dẫn cho việc thực hiện con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện[10].

Để hiện thực hóa mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, theo đồng chí Tổng Bí thư, đòi hỏi sự tham gia tích cực của các chủ thể, của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, theo mô hình Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

(1) Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam 

Về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Nội dung các vấn đề về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong nhận thức của Tổng Bí thư bao quát một cách toàn diện, từ cơ sở lý luận chung đến những vấn đề cụ thể về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ; công tác tuyên giáo, tổ chức, kiểm tra, dân vận, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân. Ở lĩnh vực nào Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng có sự am hiểu sâu sắc, sự sẻ chia, đồng cảm, sự gợi mở, định hướng thuyết phục.

Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo “sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta; và công tác xây dựng Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt của Đảng, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng nước ta”[11], vấn đề quan trọng hàng đầu và có tính nguyên tắc là phải hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cần thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng; đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ và dù ở vị trí nào cũng phải luôn luôn “có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, làm “đúng vai, thuộc bài”, thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”[12]. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Tổng Bí thư yêu cầu, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn; đồng thời, gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bởi đây chính là cơ sở và nguồn động lực to lớn để chúng ta hoàn thành tốt các nhiệm vụ đã đề ra, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững và chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Theo đồng chí Tổng Bí thư, đây là cuộc đấu tranh với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không bị tác động không trong sáng bởi bất kỳ tổ chức, cá nhân nào... Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, tiêu cực; xử lý đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật hình sự đối với những người vi phạm, bất kể đó là ai”[13].

Cùng với bản giấy, nhiều cuốn sách của Tổng Bí thư được phát hành bản điện tử.

(2) Vai trò của Nhà nước

Đồng chí Tổng Bí thư nêu rõ: “Nhà nước (bao gồm Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp) quản lý có nghĩa là Nhà nước tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, biến nó thành hiện thực... Quốc hội là cơ quan lập hiến, lập pháp, thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng; Chính phủ là cơ quan hành pháp, có trách nhiệm cụ thể hoá và tổ chức thực hiện, biến luật pháp của Nhà nước, tức cũng là đường lối của Đảng thành hiện thực, tạo ra của cải vật chất, quản lý xã hội, mang lại lợi ích thiết thực cho toàn thể nhân dân, cho đất nước; các cơ quan tư pháp (gồm tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân,...) là cơ quan bảo vệ pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn cho xã hội, cho nhân dân”[14].

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ, trong những năm gần đây, hoạt động lập pháp của Quốc hội có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng, kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu bức thiết của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Hoạt động giám sát được tăng cường, tập trung vào những vấn đề bức xúc của cuộc sống, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thúc đẩy việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước và các công trình, dự án quan trọng quốc gia... ngày càng được cải tiến, thực chất hơn, đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội được đẩy mạnh, mở rộng trên cả bình diện song phương và đa phương, đưa ngoại giao nghị viện đi vào chiều sâu, góp phần làm cho nhân dân thế giới và bạn bè quốc tế hiểu biết rõ hơn về đất nước, con người và nền văn hóa Việt Nam, nâng cao vai trò, vị thế của nước ta trên trường quốc tế[15]. Trong thời gian tới, Quốc hội cần tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò, vị trí trong việc tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động của đất nước, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Các đại biểu Quốc hội tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ về mọi mặt, gần gũi và lắng nghe ý kiến của nhân dân, thực hiện và hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà cử tri và nhân dân giao phó.

Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước đây cũng như Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay, đã luôn luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, không ngừng phát huy vai trò, vị trí là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp; thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý, điều hành phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, có những đóng góp to lớn và quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; “đều hoàn thành trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật tổ chức Chính phủ trong việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật; hoạch định chính sách và trình dự án luật, pháp lệnh; quản lý nhà nước, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển văn hoá, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, thông tin và truyền thông; thực hiện các chính sách xã hội, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”[16].

Trong thời gian tới, Chính phủ, các cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền các cấp cần đặc biệt quan tâm, làm tốt hơn nữa công tác xây dựng tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ (đây là vấn đề cơ bản, rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ hoạt động của Chính phủ), thực hiện nghiêm Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các luật khác có liên quan nhằm xây dựng tổ chức, bộ máy và cán bộ thật sự trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn vững vàng. Chú trọng hơn nữa đến việc cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy tổ chức, cán bộ. Đặc biệt là cần phải đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Chính phủ, chính quyền các địa phương và giữa các cơ quan, đơn vị này với các cơ quan, đơn vị của Đảng, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, hệ thống các cơ quan tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm cả hệ thống tổ chức bộ máy luôn luôn vận hành một cách đồng bộ, thống nhất[17].

Đối với các cơ quan tư pháp, cần xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến tư pháp, bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý mọi hành vi can thiệp trái pháp luật vào hoạt động tư pháp; bảo đảm tính độc lập của toà án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá; bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng, văn minh, pháp quyền, hiện đại, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Xác định thẩm quyền của toà án để thực hiện đầy đủ, đúng đắn quyền tư pháp; mở rộng thẩm quyền của toà án trong xét xử các vi phạm hành chính, quyết định một số vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Hoàn thiện thể chế để viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; hoàn thiện cơ chế tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, tăng cường kiểm soát bên trong việc thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động xét xử phù hợp với nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo hướng tinh, gọn, chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao và góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân đối với người bị giữ, bị bắt, tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan thi hành án. Hoàn thiện cơ chế thi hành án hình sự theo hướng nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý giáo dục, cải tạo phạm nhân, quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng; bảo đảm và bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân đối với người chấp hành án theo quy định của pháp luật. Hoàn thiện cơ chế nâng cao chất lượng, hiệu quả thi hành án dân sự, hành chính theo hướng rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí. Hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư, bảo đảm để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Củng cố hội luật gia các cấp, nâng cao vai trò, trách nhiệm của thành viên hội luật gia trong thực hiện nhiệm vụ đúng quy định pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực để xã hội hoá và phát triển các lĩnh vực công chứng, hoà giải, trọng tài, thừa phát lại, giám định tư pháp; xây dựng đội ngũ hành nghề công chứng, hoà giải, trọng tài, thừa phát lại, giám định tư pháp đủ về số lượng và bảo đảm chất lượng, hoạt động chuyên nghiệp, tuân thủ pháp luật và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội. Nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng trợ giúp pháp lý, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp; hiện đại hoá, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống trợ giúp pháp lý; mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện của đất nước. Phát triển nhân lực tư pháp đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, có cơ cấu hợp lý[18].

(3) Về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

Trong lịch sử đấu tranh, bảo vệ và xây dựng đất nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã thực hiện tốt quyền và trách nhiệm của mình trong công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, tạo sự thống nhất và đồng thuận cao trong xã hội, đẩy mạnh thực hành dân chủ ở cơ sở, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh. Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Nhân dân (thông qua Mặt trận, các tổ chức quần chúng thành viên của Mặt trận) làm chủ, là chủ thể thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thụ hưởng các thành quả do mình làm ra”[19]. Do đó, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên cần tiếp tục tăng cường xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tinh thần sáng tạo của các tầng lớp nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy sức mạnh sáng tạo to lớn của các tầng lớp nhân dân, đoàn viên, hội viên góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; phát huy mạnh hơn nữa vai trò tiên phong trong việc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước ngày càng vững mạnh[20]. Bên cạnh đó, Tổng Bí thư nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, trong đó có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời Đảng cũng là thành viên trong Mặt trận, do đó, Đảng không thể đứng ngoài để lãnh đạo Mặt trận, mà phải thông qua hiệp thương dân chủ để nhân dân đồng tình, ủng hộ, đồng thuận cùng thực hiện thành công mọi nhiệm vụ. Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, không ngừng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Có cơ chế hữu hiệu để nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên[21].

Xây dựng giai cấp công nhân: Theo đồng chí Tổng Bí thư, giai cấp công nhân luôn là lực lượng tiên phong của cách mạng Việt Nam, đứng ở trung tâm các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, kế thừa và làm rạng rỡ thêm truyền thống vẻ vang của dân tộc. Trong giai đoạn hiện nay, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, hiện đại; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng[22]. Để thực hiện sứ mệnh vẻ vang của mình, đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, ý thức, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, kỹ năng nghề nghiệp, lao động cần cù, sáng tạo để thích ứng với điều kiện lao động trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quyết tâm chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, không ngừng phấn đấu vì việc làm bền vững và cuộc sống tốt đẹp hơn của chính mỗi công nhân, vì sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp, sự phồn vinh của đất nước.

Đồng chí Tổng Bí thư cũng đề cao vai trò, vị trí của Công đoàn Việt Nam trong lịch sử cũng như trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để thực hiện sứ mệnh của mình, Tổng Bí thư yêu cầu Công đoàn Việt Nam chú trọng nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị cho công nhân, viên chức, người lao động; chăm lo lợi ích chính đáng của đoàn viên; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức, phương thức và hiệu quả hoạt động công đoàn cho phù hợp tình hình mới; tham gia xây dựng, chỉnh đốn, bảo vệ Đảng và hệ thống chính trị[23].

Trong việc chỉ đạo và triển khai hoạt động công đoàn, cần nhận thức sâu sắc và quán triệt đầy đủ rằng, Công đoàn Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội hoạt động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý. Hoạt động của Công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng; Công đoàn cần tích cực phối hợp với Nhà nước, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và người sử dụng lao động để chăm lo, đại diện bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động. Cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa mô hình tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động công đoàn để phù hợp với cơ cấu lao động, loại hình doanh nghiệp, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân, người lao động và yêu cầu hội nhập quốc tế. Với vị thế là một tổ chức chính trị - xã hội, là cơ sở chính trị vững chắc của Đảng, Nhà nước và chế độ, hơn ai hết, Công đoàn phải phát huy và làm tốt hơn nữa việc tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, coi đây cũng là trách nhiệm và quyền lợi chính trị của đoàn viên, công nhân, viên chức, người lao động và tổ chức công đoàn[24].

Xây dựng giai cấp nông dân, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò, vị trí của nông dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là coi nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Do đó, đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ, cần phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh, hiện đại; nâng cao trình độ mọi mặt cho nông dân; tổ chức tốt các hoạt động tư vấn, dịch vụ, hỗ trợ nông dân, cung cấp kịp thời tri thức mới về khoa học - công nghệ và những cơ hội, thách thức của quá trình toàn cầu hóa, của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, của biến đổi khí hậu. Qua đó, nông dân nước ta mới có đủ bản lĩnh chính trị và trình độ để làm chủ nông thôn mới; không chỉ là lực lượng mạnh về kinh tế mà còn là lực lượng mạnh về chính trị, văn hóa, xã hội, là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[25].

Tổng Bí thư nhấn mạnh, Hội Nông dân Việt Nam, với tư cách cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp nông dân, nhằm góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong thời gian tới, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động, đoàn kết nông dân thực sự trở thành lực lượng cách mạng, lực lượng kinh tế, chính trị, xã hội to lớn và mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước; tăng cường đào tạo nghề, nâng cao trình độ mọi mặt cho nông dân; tập trung tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, hội viên, nông dân nhận thức sâu sắc hơn nữa về vai trò chủ thể của giai cấp nông dân, về Đảng, về tổ chức Hội; phát huy lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, tương thân, tương ái, khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng; nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật; xây dựng và củng cố tổ chức; nâng cao hơn nữa năng lực hoạt động của Ban Chấp hành Hội Nông dân Việt Nam trong lãnh đạo công tác hội và phong trào nông dân[26]. Đặc biệt, Tổng Bí thư yêu cầu Hội Nông dân các cấp cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội; xây dựng Hội Nông dân Việt Nam ngày càng vững mạnh, thực sự là tổ chức đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân; phát huy thật tốt vai trò là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân, là cầu nối giữa nông dân với Đảng, Nhà nước; là nhân tố tích cực trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, liên minh “công nhân - nông dân - trí thức”; chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đối ngoại nhân dân... phát huy vai trò nông dân là chủ thể, là trung tâm trong phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới, tăng cường dân chủ ở cơ sở, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh; tích cực hội nhập quốc tế, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước[27].

Xây dựng đội ngũ trí thức: Là những người lao động trí óccó trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội[28], có đặc điểm là được đào tạo chuyên sâu từ nhiều nền giáo dục, luôn có lòng yêu nước, gắn bó mật thiết với các giai tầng khác trong xã hội, sẵn sàng cống hiến hết mình vì độc lập, tự do và sự phát triển bền vững của quốc gia - dân tộc[29], đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ, trải qua quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc, đội ngũ trí thức Việt Nam luôn nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ ra mắt cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Trong thời gian tới, tình hình thế giới và trong nước tiếp tục còn có những diễn biến phức tạp; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ đặt ra yêu cầu, trọng trách nhiều hơn đối với đội ngũ trí thức. Do đó, đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu, cần vận động, tập hợp, đoàn kết và phát huy tối đa tiềm năng, sức sáng tạo của đội ngũ trí thức; đồng thời có cơ chế thu hút, trọng dụng, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức, nhằm xây dựng đội ngũ trí thức không ngừng lớn mạnh, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng, có cơ cấu phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ hội nhập; có chính sách thu hút trí thức trẻ, trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài, tôn vinh những trí thức có thành tích xuất sắc trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; làm tốt công tác giáo dục chính trị, giáo dục tư tưởng đối với đội ngũ trí thức để họ nhận thức sâu sắc hơn nữa vinh dự và trách nhiệm trước Đảng trước nhân dân[30].

Phát triển đội ngũ doanh nhân: Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng chí Tổng Bí thư nêu rõ, đội ngũ doanh nhân có vai trò quan trọng. Do đó, trong thời gian tới, cần chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các chủ doanh nghiệp; phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, có ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm với xã hội và kỹ năng quản lý, quản trị cao; chú trọng xây dựng, nâng cao văn hóa doanh nghiệp và đạo đức doanh nhân. Đồng thời, các doanh nhân, doanh nghiệp, cần chủ động, tích cực hơn nữa trong đổi mới quản lý, quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như từng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cụ thể. Tăng cường liên kết sản xuất, tham gia chuỗi giá trị trong nước, khu vực và thế giới, xây dựng thương hiệu và “chữ tín” trong kinh doanh[31].

Giáo dục thanh niên, thế hệ trẻ: Đồng chí Tổng Bí thư khẳng định, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và đánh giá rất cao vai trò, vị trí của thanh niên, thế hệ trẻ với tư cách lực lượng xã hội to lớn, rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong thời gian tới, cần tăng cường giáo dục thanh niên, thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng cống hiến vì Tổ quốc; xung kích trong học tập, lao động sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp, làm chủ các kiến thức khoa học - công nghệ hiện đại trong kinh tế số, xã hội số[32]. Với tư cách là một tổ chức cách mạng của những người cộng sản trẻ tuổi, chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của thanh niên, nhằm góp phần quan trọng trong việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần tăng cường và làm tốt hơn nữa công tác giáo dục chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ; đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn và các tổ chức thanh, thiếu niên; đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng, phát huy vai trò tiên phong, xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ; chăm lo củng cố, xây dựng tổ chức Đoàn thật sự vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ[33].

Xây dựng người phụ nữ Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, năng lực sáng tạo, ý thức công dân; phát huy truyền thống trung hậu, đảm đang, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần vươn lên của phụ nữ Việt Nam: Nhấn mạnh vai trò của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo dựng nên truyền thống vẻ vang: anh hùng, trung hậu, bất khuất, đảm đang, Tổng Bí thư khẳng định, chiếm khoảng xấp xỉ nửa dân số và lực lượng lao động, phụ nữ Việt Nam ngày nay có vai trò và đóng góp quan trọng trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều này có sự đóng góp quan trọng của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích của toàn thể phụ nữ trong cả nước, trong việc tập hợp, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Để phát huy những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của đất nước qua gần 40 năm đổi mới, đưa đất nước vượt qua khó khăn, phát triển nhanh và bền vững, phồn vinh và hạnh phúc, đi lên chủ nghĩa xã hội, với tư cách là chủ thể quan trọng của quá trình này, Tổng Bí thư yêu cầu Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam quán triệt, nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục các tầng lớp phụ nữ thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy thế mạnh, sức mạnh của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực; chăm lo, bảo vệ phẩm giá, quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ; quan tâm xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách, pháp luật liên quan đến phụ nữ, trẻ em, coi trọng vấn đề giới và bình đẳng giới. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội. Tham gia giám sát, phản biện xã hội, xây dựng Đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội[34].

Động viên cựu chiến binh: Đồng chí Tổng Bí thư nêu rõ: “Cựu chiến binh là những người đã từng chiến đấu, rèn luyện và trưởng thành qua khói lửa của các cuộc kháng chiến và đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; ngày nay đang là một bộ phận rất quan trọng của xã hội”[35]. Hội Cựu chiến binh Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội, đại diện cho ý chí và quyền lợi của cựu chiến binh, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, do Đảng lãnh đạo. Từ khi ra đời đến nay, Hội đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, hoạt động tích cực, đúng hướng, có hiệu quả. Hội đã tập hợp, đoàn kết, hướng dẫn hội viên kiên quyết đấu tranh chống các âm mưu phá hoại cùng các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân; tham gia giám sát, phản biện xã hội; tích cực làm kinh tế, nâng cao đời sống; góp phần giữ gìn an ninh, trật tự xã hội; tiếp tục bồi đắp truyền thống vẻ vang “trung thành, đoàn kết, gương mẫu, đổi mới”. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời gian tới, Hội Cựu chiến binh cần quán triệt và tổ chức cho cán bộ, hội viên kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch; tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phát triển kinh tế, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”; bồi dưỡng cách mạng cho thế hệ trẻ; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho hội viên; chăm lo xây dựng Hội Cựu chiến binh trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; gắn bó mật thiết với nhân dân[36].

Phát huy uy tín, kinh nghiệm người cao tuổi: Theo đồng chí Tổng Bí thư, trong lịch sử phát triển của dân tộc ta, người cao tuổi có nhiều đóng góp to lớn cả trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Người cao tuổi tích luỹ được nhiều kinh nghiệm phong phú trong cuộc sống, trong thực tiễn sản xuất, chiến đấu, am hiểu sâu sắc về văn hóa, ứng xử trong cộng đồng, dòng họ, gia đình. Mặc dù tuổi cao, nhưng hiện nay, vẫn có trên 6,5 triệu người cao tuổi trực tiếp tham gia lao động, sản xuất, nhiều người làm chủ cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, tham gia công tác đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, hòa giải cơ sở... Với tư cách là tổ chức xã hội, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi Việt Nam, trong thời gian qua, Hội Người cao tuổi các cấp có nhiều hoạt động thiết thực, hiệu quả, làm nòng cốt trong công tác chăm sóc, phát huy vai trò của người cao tuổi. Trong thời gian tới, để tiếp tục phát huy vai trò của mình, góp phần tham gia xây dựng đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Hội Người cao tuổi đẩy mạnh công tác xã hội hóa, đa dạng nội dung, phương thức, loại hình chăm sóc người cao tuổi; phát huy vai trò nòng cốt của Hội trong phong trào “Toàn dân chăm sóc người cao tuổi”, phát huy vai trò của người cao tuổi, phấn đấu để người cao tuổi được sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc trong gia đình và xã hội. Kịp thời nắm bắt tư tưởng, đời sống, nguyện vọng của người cao tuổi, đặc biệt là những người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn; phát huy mạnh mẽ vai trò của người cao tuổi trong việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; làm tốt hơn nữa vai trò cầu nối giữa Đảng và nhân dân[37].

Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng: Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện đường lối nhất quán là các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ. Hệ thống pháp luật Việt Nam liên tục được hoàn thiện, đáp ứng cơ bản chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các dân tộc thiểu số. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Cần bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, phát huy nội lực giúp nhau vươn lên cùng phát triển. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế - xã hội. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết của đồng bào các dân tộc thiểu số. Kịp thời đấu tranh với những âm mưu, hành động chia rẽ khối đoàn kết giữa các dân tộc[38].

Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáochức sắc, tín đồ: Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh, Đảng và Nhà nước ta luôn có chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đảm bảo để mọi người có tín ngưỡng, tôn giáo được sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo bình thường theo pháp luật; đồng thời, tạo điều kiện gắn bó giữa đạo và đời để đồng bào và chức sắc các tôn giáo vừa thực hiện tốt nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của tôn giáo mình, vừa làm tròn nghĩa vụ công dân, gương mẫu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tích cực góp phần đấu tranh với các thế lực thiếu thiện chí ở trong và ngoài nước lợi dụng vấn đề tôn giáo để chia rẽ nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở tiến trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân ta[39]. Trong thời gian tới, cần vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đồng hành cùng dân tộc, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm các tôn giáo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận[40].

Hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập xã hội nước sở tại. Nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, quản lý lao động, du học sinh... Có chính sách đột phá để thu hút nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đất nước, đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc[41].

PGS.TS. Vũ Trọng Lâm
Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

(Theo dangcongsan.vn)

 

Phần 2: "Những giá trị lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam*

----------------------

(*)Trích trong sách: Vũ Trọng Lâm (Chủ biên): Nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua các tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr.92.

[2] Nguyễn Phú Trọng: Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, văn minh, Tạp chí Cộng sản, số 9, 1993.

[3] Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.24.

[4] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, văn minh, Tlđd.

[5] Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.20.

[6] Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.20.

[7] Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.21.

[8] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.22-23.

[9] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.23.

[10] Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.24-25.

[11] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.369-370.

[12] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.379.

[13] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.137.

[14] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.84-85.

[15] Xem Nguyễn Phú Trọng: Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, khó khăn nào cũng vượt qua, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr.415.

[16] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.86-88.

[17] Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.95-96.

[18] Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.59-64.

[19] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.85.

[20] Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.102-112.

[21] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.39.

[22] Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.287-288.

[23] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.236.

[24] Xem “Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIII”, ngày 02/12/2023, https://baochinhphu. vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-dai-hoi-cong-doanviet-nam-lan-thu-xiii-102231202185741415.htm.

[25] Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.300-302.

[26] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.249.

[27] Xem “Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Đại hội đại biểu Hội Nông dân Việt Nam”, ngày 26/12/2023, https://tienphong. vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-dai-hoidai-bieu-hoi-nong-dan-viet-nam-post1599281.tpo.

[28] Xem Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 của Hội nghị Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, in trong sách Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.67, tr.792-793.

[29] Xem Vũ Trọng Lâm: “Đổi mới nhận thức lý luận về đội ngũ trí thức và tiếp tục xây dựng đội ngũ trí thức trong điều kiện phát triển mới của đất nước (kỳ I)”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 20/9/2023, nguồn: https:// www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/ V8hhp4dK31Gf/content/doi-moi-nhan-thuc-ly-luan-ve-doi-ngu-tri-thucva-tiep-tuc-xay-dung-doi-ngu-tri-thuc-trong-dieu-kien-phat-trien-moicua-dat-nuoc.

[30] Xem Nguyễn Phú Trọng: “Tiếp tục xứng đáng là “nguyên khí của quốc gia”, nỗ lực phấn đấu, có nhiều đóng góp to lớn hơn nữa, hiệu quả cao hơn nữa cho sự nghiệp xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững”, Tạp chí Cộng sản, số 1011, tháng 4/2023, tr.3-7.

[31] Xem “Tổng Bí thư: Tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức về phát triển kinh tế tư nhân”, Cổng thông tin điện tử Viện Chiến lược và chính sách tài chính, ngày 11/5/2017, https://mof.gov.v..ebcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/ chi-tiet-tin?dDocName=MOFUCM101638.

[32] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.42-43.

[33] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr. 354-361.

[34] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.390-401.

[35] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.411.

[36] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.434-437.

[37] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.600-604.

[38] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.43.

[39] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.530-531.

[40] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.44.

[41] Xem Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Sđd, tr.44.

Là một nhà trí thức, nhà lý luận và hoạt động thực tiễn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng Đảng...; trong đó, nổi bật nhất là các nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình thế giới ngày càng diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; ở trong nước, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””[1], thì việc nghiên cứu những nhận thức lý luậ

Tin khác cùng chủ đề

Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng
Quan điểm phát triển văn hóa, con người trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
Bảo đảm tính đảng và tính khoa học của khoa học lịch sử và khoa học chính trị trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm để phòng, chống tận gốc tham nhũng, tiêu cực
Xây dựng đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung
Quan điểm của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài và vận dụng trong thực hiện Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài hiện nay

Gửi bình luận của bạn