Tham dự hội nghị còn có các đồng chí: Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ; Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Chính phủ; Hoàng Trung Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Vũ Đức Đam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ cùng lãnh đạo một số bộ, ngành và các địa phương trong Vùng KTTĐBB.

Tăng trưởng nhanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ

Chia sẻ những cảm nhận về đổi thay của Vùng KTTĐBB, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và nhiều đại biểu tham dự hội nghị nhắc đến hệ thống đường cao tốc tạo thành trục giao thông liên vùng, giúp đi lại thuận tiện, nhanh chóng. Nếu trước đây, hành trình từ Hà Nội đến Hưng Yên mất hơn một giờ, nay chỉ còn 45 phút theo đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng. Tương tự, thời gian di chuyển từ Hà Nội đến Hải Phòng, Quảng Ninh chỉ còn một nửa so với trước khi tuyến cao tốc Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh đi vào hoạt động. Hạ tầng giao thông được đầu tư ngày càng hiện đại, không chỉ đường bộ mà còn hàng không, cảng biển, đường thủy là một trong những động lực giúp các địa phương trong vùng đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất so với các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước.

Với 7 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên và Vĩnh Phúc, Vùng KTTĐBB được xác định là trung tâm về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh của đất nước. Diện tích tự nhiên khoảng 15.591km2 (chiếm 4,7% diện tích cả nước); dân số 16,14 triệu người (chiếm 17% dân số cả nước). Quy mô kinh tế của vùng đứng thứ hai cả nước, chiếm gần 32% GDP, thu ngân sách chiếm hơn 31%, xuất khẩu hằng năm chiếm hơn 30%.

Thắt chặt liên kết vùng để thúc đẩy phát triển
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại hội nghị. Ảnh: THÙY TRÂM

Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng, kinh tế Vùng KTTĐBB tăng trưởng nhanh, quy mô kinh tế luôn giữ tỷ trọng cao trong 4 vùng kinh tế trọng điểm cả nước. Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2010) bình quân 3 năm 2016-2018 đạt 9,08%, cao nhất trong 4 vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) và vượt mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2016-2020 (9%). GRDP bình quân đầu người tăng từ 4.164USD năm 2016 lên 4.813USD năm 2018, gấp 1,86 lần so với trung bình cả nước và đứng thứ hai sau Vùng KTTĐ phía Nam.

Đáng chú ý, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp. Ngành công nghiệp-xây dựng tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của vùng và tập trung đều vào tất cả địa phương… Môi trường đầu tư kinh doanh được hoàn thiện, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao; cải cách hành chính, tăng cường năng lực cạnh tranh, nâng cao chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công được các địa phương trong vùng chú trọng. Đầu tư nước ngoài giai đoạn 2016-2018 của vùng đứng thứ hai cả nước, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 32,1 tỷ USD, chiếm 33% về số dự án và 27% tổng vốn đầu tư đăng ký so với cả nước.

Cần quy hoạch tổng thể liên vùng

Nhấn mạnh việc liên kết giữa các thành viên trong vùng còn lỏng lẻo, PGS, TS Bùi Quang Tuấn, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nêu thực trạng: Hiện nay, mối quan hệ giữa 7 tỉnh, thành phố trong vùng vẫn chỉ dừng ở mức trao đổi, gặp gỡ, trong khi yêu cầu đặt ra là phải có liên kết, phân công chuyên môn hóa, phát huy được lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối của vùng. Do đó, trước hết, cần khẩn trương lập quy hoạch vùng, phân công cụ thể tỉnh, thành phố nào làm tốt việc gì thì ưu tiên làm việc đó. Cùng chung quan điểm, GS, TS Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đề xuất, quy hoạch này nên tập trung sâu hơn vào những vấn đề của vùng, như đầu tư, du lịch liên vùng, bảo vệ môi trường… chứ không nên chăm chăm vào từng địa phương. Đánh giá về vấn đề này, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, quy hoạch không gian phát triển Vùng KTTĐBB còn hình thành thụ động, chưa rõ nét theo định hướng. Chưa có cơ chế, chính sách liên kết giữa các tỉnh, thành phố trong vùng và giữa vùng này với các vùng khác trong việc hợp tác phát triển kinh tế và giải quyết những vấn đề mang tính liên tỉnh, liên vùng.

Đóng vai trò quan trọng trong Vùng KTTĐBB, tỉnh Hưng Yên đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương thực hiện các hoạt động điều phối, phát triển liên kết vùng. Một trong những điểm sáng của Hưng Yên là cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh, công nghiệp và dịch vụ chiếm 90%, nông nghiệp chỉ 10%. Tái cơ cấu nông nghiệp đạt hiệu quả cao, giá trị thu nhập lên đến 192 triệu đồng/ha/năm. Để đẩy mạnh hơn nữa liên kết vùng, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Nguyễn Văn Phóng kiến nghị: Trung ương nên hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng liên tỉnh, ưu tiên phát triển mạng lưới giao thông vận tải, hạ tầng công nghiệp, du lịch. Điển hình như tạo điều kiện cho Hà Nội, Hưng Yên triển khai dự án xây dựng đường vành đai 3,5 và cầu vượt Ngọc Hồi. Cho phép thi công giai đoạn 2 dự án đường nối cao tốc Hà Nội-Hải Phòng với cao tốc Cầu Giẽ-Ninh Bình từ nguồn vốn dư của dự án cầu Hưng Hà, do đường mới thông xe 6 tháng nhưng mật độ phương tiện đã vượt thiết kế 5 lần.

Với vai trò là Chủ tịch Hội đồng Vùng KTTĐBB, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho rằng, cần tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng phù hợp với đặc thù của vùng. Trong đó, chú trọng thực hiện liên kết trong công tác lập quy hoạch phát triển và thu hút đầu tư, sản xuất kinh doanh gắn với phát triển kinh tế tri thức và Cách mạng công nghiệp 4.0…

Từ góc độ doanh nghiệp, bà Hương Trần Kiều Dung, Tổng giám đốc Tập đoàn FLC cho biết, để thu hút các nhà đầu tư vào Vùng KTTĐBB, vấn đề giải quyết thủ tục hành chính của các địa phương cần có tính đồng bộ. Hiện nay, từ quy trình thực hiện đến quy trình phối hợp, mỗi địa phương có cách hiểu khác nhau, gây ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, bà Hương Trần Kiều Dung kiến nghị, khi địa phương có vướng mắc, cần xin ý kiến các bộ, ngành thì các bộ, ngành nên ra văn bản hướng dẫn chung để các địa phương khác có hướng giải quyết khi gặp vấn đề tương tự.

Kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh

Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, việc rà soát hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển các vùng KTTĐ là yêu cầu quan trọng, cấp bách, tạo khả năng đột phá, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội đất nước nhanh và bền vững. Thủ tướng đánh giá, Vùng KTTĐBB với tam giác phát triển Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, là vùng chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, là vùng kinh tế lớn thứ hai cả nước. “Chúng ta nhận thức được những tiềm năng lợi thế Vùng KTTĐBB hơn hẳn vùng kinh tế khác, nhất là kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực. Trong thời gian qua, hạ tầng vùng có những bước chuyển biến quan trọng và từ đó có nhiều chuyển biến trong các lĩnh vực”, Thủ tướng bày tỏ. Bên cạnh đó, đây là vùng duy nhất cả nước có tất cả địa phương đều điều tiết về ngân sách Trung ương. Vùng có gần 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước, chỉ còn 2% hộ nghèo theo chuẩn đa chiều hiện nay.

Thủ tướng cũng lưu ý một số bất cập, tồn tại của vùng, đó là: Khu vực dịch vụ đang là lợi thế của vùng nhưng tốc độ tăng trưởng chưa cao, chưa bền vững; tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của vùng có xu hướng giảm (từ gần 51% năm 2016 xuống còn khoảng 47% năm 2018). Sản xuất nông nghiệp nhìn chung còn manh mún, nhỏ lẻ; liên doanh, liên kết trong sản xuất, kinh doanh còn yếu; trình độ canh tác, công nghệ sơ chế, chế biến còn lạc hậu... Việc di dân vào Hà Nội đã gây quá tải kết cấu hạ tầng. Khu vực công nghiệp chủ yếu phát triển theo chiều rộng, đóng góp của khoa học kỹ thuật, năng suất các yếu tố tổng hợp còn hạn chế. Một số địa phương vẫn tập trung vào khai thác tài nguyên, gia công. Các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, logistics, dịch vụ cao cấp phát triển chưa tương xứng.

Bên cạnh đó, việc gắn kết giữa các dự án FDI và doanh nghiệp trong nước để tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế, chưa có tính chất lan tỏa. Phần lớn dự án FDI thường tập trung vào các lĩnh vực, ngành có nhiều ưu đãi đầu tư, nhân công giá rẻ, chủ yếu gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng thấp. Các hoạt động hợp tác liên kết nội vùng và giữa các vùng chưa thật sự chủ động, hiệu quả...

Đối với định hướng trong thời gian tới, Thủ tướng nhấn mạnh, cần tiếp tục giữ vững và phát huy hơn nữa vai trò của vùng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của cả nước; phấn đấu cùng Vùng KTTĐ phía Nam là một trong hai đầu tàu, trung tâm kinh tế lớn nhất và phát triển năng động của cả nước. Thủ tướng lưu ý, cần xác định những ngành nghề trụ cột ưu tiên, quy hoạch phân bổ không gian phù hợp hơn, làm rõ hơn danh mục dự án hạ tầng phục vụ liên kết cả nội vùng và ngoại vùng. Đồng thời, cần có cơ chế thu hút đầu tư từ Trung ương, địa phương, đầu tư xã hội và đầu tư tư nhân.

Thủ tướng cũng quan tâm đến xây dựng thể chế liên kết vùng, cơ chế phối hợp vùng. Chú trọng liên kết trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ một cách rõ nét hơn. Mục tiêu phát triển của vùng phải là đi đầu về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, đi đầu trong 3 đột phá chiến lược và đặc biệt là cơ cấu lại nền kinh tế trên tinh thần phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường. Làm rõ hơn mô hình tăng trưởng, đó là kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh. Thủ tướng yêu cầu các cơ quan chuyên môn tiếp thu ý kiến đóng góp về thể chế điều hành và mô hình vùng, giao Bộ KH&ĐT cùng với các cơ quan liên quan đề xuất mô hình cụ thể, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

MẠNH HƯNG - VŨ DUNG

Theo qdnd.vn